Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal <div class="h2"><strong>Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ</strong></div> <p><strong>ISSN (Print): 2734-9292 | DOI: 10.54491</strong></p> <p>Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ là tạp chí chuyên ngành của Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ, giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ khoa học mới trong các lĩnh vực: Trắc địa, Bản đồ, GIS, Viễn thám và Địa chính. Tạp chí xuất bản định kỳ 4 số một năm bằng tiếng Việt.</p> <p>Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ được tính 0,5 điểm công trình trong danh mục tạp chí được tính điểm của Hội đồng Giáo sư Việt Nam.</p> vi-VN dinhtainhan@gmail.com (Đinh Tài Nhân ) trantuananh0709@gmail.com (Trần Tuấn Anh) Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 OJS 3.3.0.7 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Nền tảng chia sẻ dữ liệu tài nguyên và môi trường thành phố Hồ Chí Minh https://jgac.vn/journal/article/view/593 <p><em>Bài báo giới thiệu phương pháp luận và giải pháp xây dựng nền tảng chia sẻ dữ liệu tài nguyên và môi trường đáp ứng các quy định tại Nghị định 73/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 06 năm 2017 của Chính phủ về thu thập, quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường và Kiến trúc Tổng thể Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng. Kết quả thử nghiệm tại&nbsp; Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nền tảng sẵn sàng cung cấp gần 450 dữ liệu theo chuẩn mở quốc tế và các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia. Các tổ chức, cá nhân có thể khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua nền tảng này bằng các phương thức và quyền hạn truy cập khác nhau.</em></p> Bùi Hồng Sơn, Nguyễn Toàn Thắng, Văn Hùng Tiến, Vũ Văn Thái, Đồng Thị Bích Phương Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/593 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 Khả năng xây dựng bản đồ lớp phủ mặt đất từ dữ liệu viễn thám Sentinel-2 theo phương pháp phân loại Random Forest trên nền tảng điện toán đám mây https://jgac.vn/journal/article/view/594 <p><em>Đây là nghiên cứu nhu cầu thực tế trong lĩnh vực viễn thám để xây dựng cơ sở dữ liệu lớp phủ mặt đất phục vụ theo dõi sự biến động các đối tượng trên bề mặt Trái đất trong các ứng dụng đa lĩnh vực. </em></p> <p><em>Trong giám sát tài nguyên môi trường nói chung, tài nguyên nước trong các lưu vực sông nói riêng, sự kết hợp giữa thông tin, dữ liệu viễn thám và mô hình tính toán tài nguyên nước trong lưu vực để xây dựng các kịch bản tài nguyên nước phục vụ trực tiếp cho việc giám sát, hỗ trợ quyết định cho thích ứng thiên tai cũng như quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc nhiều vào yếu tố lớp phủ. Lớp phủ là sự kết hợp của nhiều thành phần như thực phủ, thổ nhưỡng, đá gốc và mặt nước chịu sự tác động của các nhân tố tự nhiên như nắng, gió, mưa bão và ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy trong lưu vực. Dòng chảy trong lưu vực sông bên cạnh chịu ảnh hưởng của lớp phủ, còn chịu ảnh hưởng của địa hình. Thực tế, tồn tại mối quan hệ giữa phân bố lớp phủ và bề mặt địa hình, với các đặc trưng về dáng địa hình, thổ nhưỡng và điều kiện khí hậu. </em></p> <p><em>Để tận dụng tối đa tính hữu dụng dùng phương pháp phân loại dữ liệu viễn thám quang học trong xây dựng bản đồ lớp phủ mặt đất, bài báo giới thiệu phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ lớp phủ mặt đất từ dữ liệu viễn thám Sentinel-2 theo phương pháp phân loại random forest trên nền tảng điện toán đám mây Google Earth Engine. Thực nghiệm sử dụng dữ liệu Sentinel-2 thu nhận năm 2020 tại khu vực tỉnh Louangphabang, là một tỉnh đầu nguồn lưu vực sộng thuộc lãnh thổ của CHDCND Lào.</em></p> Vũ Thị Phương Thảo, Souksakone Sengchanh Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/594 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 Cảnh báo nguy cơ lũ quét theo lưu vực với ngưỡng mưa ngày lớn nhất tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam https://jgac.vn/journal/article/view/596 <p><em>Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tác động của lượng mưa cực đoan và các tác động dây chuyền của nó đã gia tăng mạnh mẽ ở các huyện miền núi tỉnh Quang Nam, Việt Nam. Sử dụng phương pháp phân chia lưu vực kết hợp với đánh giá nguy cơ lũ quét theo lưu vực với ngưỡng mưa ngày lớn nhất được phân chia thành 77 lưu vực với 5 mức độ nguy cơ lũ quét trên địa bàn các huyện miền núi trong khu vực nghiên cứu. Kết quả, cho thấy mức độ nguy cơ thấp (I và II) chiếm 79,5% diện tích của toàn huyện miền núi, mức độ nguy cơ cao và rất cao (IV và V) chiếm 10,5% phân bố ở các huyện (Nam Trà My, Tây Giang) thuộc 7 LVG (417, 44, 419, 393, 402, 425 và 415).</em></p> Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Thị Diễm My Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/596 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 Xây dựng hệ thống du lịch thông minh cho tỉnh Hòa Bình https://jgac.vn/journal/article/view/597 <p><em>Ngày càng nhiều các quốc gia trên thế giới tập trung đầu tư vào các hệ thống tiên tiến để xây dựng thành phố thông minh, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao đời sống. Song song với xu hướng toàn cầu này, nhiều điểm du lịch cũng đang hiện đại hoá và sử dụng công nghệ thông minh trong nhiều mảng vận hành nhằm thay đổi hoàn toàn trải nghiệm của khách hàng, từ đó nâng cao tính cạnh tranh lâu dài của ngành du lịch. Bài báo trình bày việc thiết kế và xây dựng một hệ thống du lịch thông minh đa nền tảng dựa trên công nghệ mã nguồn mở như Flutter, NodeJS, PostgreSQL. Đặc biệt kết hợp với công nghệ GIS giúp cho hệ thống trở nên phong phú, linh hoạt và hữu ích hơn so với các hệ thống du lịch thông minh hiện nay. Nhóm tác giả đã thực hiện thử nghiệm trên môi trường thực tế với 10 cụm điểm chứa hơn 230 điểm thăm quan và dịch vụ du lịch được phân loại theo nhiều thể loại khác nhau. Kết quả đánh giá cho thấy hệ thống có giao diện trực quan, hoạt động ổn định, có nhiều tính năng hữu ích, cho phép du khách tương tác nhanh hơn, dễ dàng tra cứu thông tin về điểm đến hoặc thắng cảnh.</em></p> Lê Hồng Anh, Nguyễn Mai Dung, Nguyễn Văn Thắng, Tô Xuân Bản Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/597 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 Định lượng ô nhiễm nước mặt tại thành phố Hội An dựa trên dữ liệu viễn thám và mô hình học máy https://jgac.vn/journal/article/view/598 <p><em>Tình trạng nước mặt tại thành phố Hội An đang phải đối diện với những thách thức về mức độ ô nhiễm trong hơn một thập kỷ qua. Nghiên cứu này giới thiệu tích hợp mô hình học máy với hệ thống suy luận mờ dựa trên mạng thích ứng (ANFIS), kết hợp với dữ liệu viễn thám </em><em>q</em><em>uang học và </em><em>r</em><em>adar để ước tính ba thông số chất lượng nước như TSS, COD và BOD. Hiệu suất của mô hình được đánh giá bằng cách sử dụng các tham số bao gồm RMSE, R<sup>2</sup>, MAE. Các chỉ số dự đoán cung cấp kết quả đáng kể, với RMSE dao động từ 3,52 mg/l đến 4,59 mg/l, R<sup>2</sup> dao động từ 0,69-0,82 và MAE dao động từ 2,39 mg/l đến 3,16 mg/l. Kết quả cho thấy, nồng độ</em><em> của</em><em> ba</em><em> thông số</em><em> đánh giá </em><em>chất lượng</em><em> nước cao phân bố ở khu vực Đô thị cổ Hội An, sông Hoài. Phương pháp này có thể sử dụng để đánh giá các thông số chất lượng nước mặt, nhằm giám sát nhanh</em><em> tình trạng của môi trường nước</em><em>, cung cấp một phương pháp giám sát chất lượng nước mặt, đây có thể là nền tảng để đưa ra giải pháp bảo vệ và sử dụng nguồn nước sạch ở các thành phố Di sản.</em></p> Đỗ Thị Nhung, Nguyễn Thị Diễm My, Trần Quốc Tuấn, Nghiêm Văn Tuấn, Phạm Văn Mạnh Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/598 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 Ứng dụng Wavelets trong nội suy dị thường độ cao https://jgac.vn/journal/article/view/589 <p><em>Bài báo giới thiệu cách tiếp cận wavelets ứng dụng trong việc nội suy các đại lượng trắc địa, phương pháp này có thể tính toán nội suy cho các vị trí bất kỳ từ các giá trị đầu vào với phân bố không gian bất kỳ. Sau phần nền tảng lý thuyết là hai tính toán thử nghiệm sử dụng các giá trị từ mô hình EGM 2008, một cho lưới đồng góc toàn cầu và một cho mạng lưới địa phương với các vị trí phân bố không đều, nhằm minh họa và xác thực tính đúng đắn của phương pháp. Một cách tóm tắt, wavelets gồm hai bước: “chia” tín hiệu đầu vào thành các mức khác nhau (tương ứng với các độ và bậc điều hòa cầu), sau đó tổng hợp lại thành tín hiệu đầu ra (ở những vị trí cần giá trị nội suy). Ẩn bên dưới wavelets là nhân tái tạo sử dung hàm cơ sở cầu và đa thức Legendre, điều này giúp cho quy trình vẫn giữ được tính chất điều hòa cầu cho các giá trị nội suy, là ưu điểm nổi bật so với các phương pháp nội suy quen thuộc khác. Tính đúng đắn và độ chính xác của phương pháp đã được minh chứng thông qua hai tính toán thử nghiệm. Ở mức độ toàn cầu, một lưới đồng góc 6<sup>0</sup> các giá trị dị thường độ cao đến độ và bậc 10 đã được dùng để nội suy cho chính các vị trị này cho kết quả&nbsp; chênh lệch ở mức 10<sup>-12</sup> m. Ở mức độ khu vực, 5796 giá trị dị thường độ cao (độ và bậc từ 32 đến 900) tại châu Âu cũng được “tự nội suy” với kết quả chênh lệch 5cm, bằng đúng với độ nhiễu ngẫu nhiên đã được thêm vào trước đó. Điều này cùng với độ và bậc điều hòa cao và vị trí điểm đo không phân bố đều là những khó khăn mang tính thực tế đã được chọn cho tính toán thử nghiệm thứ hai và wavelets vẫn cho kết quả tốt.</em></p> Lương Bảo Bình Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/589 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700 Nghiên cứu ứng dụng số liệu trọng lực đo trực tiếp và từ đo cao vệ tinh để hợp nhất kết nối hệ thống đứt gãy trên đất liền và biển khu vực đới bờ Đông Bắc Việt Nam https://jgac.vn/journal/article/view/591 <p><em>Trên khu vực đới bờ, nói chung, khảo sát đo đạc trọng lực trực tiếp vẫn ở mức độ thưa thớt, chưa đồng đều, thậm chí nhiều khu vực không thể thực hiện được do địa hình chuyển tiếp phức tạp. Số liệu dị thường trọng lực vệ tinh có độ chính xác chưa cao so với số liệu đo trực tiếp, đặc biệt là ở các khu vực ven biển, khu vực các đảo, quần đảo hoặc ở những khu vực có nhiều bãi ngầm. Do đó, dị thường trọng lực vệ tinh cần phải có sự hiệu chỉnh theo số liệu đo trực tiếp nhằm nâng cao tính đồng nhất và độ chính xác. Trong nghiên cứu này, phương pháp bình phương tối thiểu Collocation được áp dụng hiệu chỉnh kết nối số liệu trọng lực trên biển và đất liền dựa theo số liệu trọng lực đo trực tiếp và từ đo cao vệ tinh. Phương pháp góc nghiêng gradient ngang dị thường trọng lực được sử dụng để xác định vị trí cũng như là đặc điểm cấu trúc của hệ thống các đứt gãy trong khu vực. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy được tính thực tiễn, hữu ích của tích hợp dị thường trọng lực đo trực tiếp với trọng lực vệ tinh; Nó cũng thể hiện được tính hiệu quả minh giải tài liệu trọng lực xác định, hợp nhất kết nối hệ thống đứt gãy đất liền và biển khu vực đới bờ Đông Bắc Việt Nam.&nbsp;</em></p> Trần Tuấn Dương, Trần Tuấn Dũng, Trần Trọng Lập, Nguyễn Phương Nam, Trần Hoàng Tâm, Đào Tuấn Linh Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ https://jgac.vn/journal/article/view/591 Sat, 25 Jun 2022 00:00:00 +0700